Gọi là chuối hột – tức thị đã có một hình dung từ đúng gần như… tuyệt đối, bởi giống chuối ấy nhiều hột lắm; hột đóng dày chi chít, chiếm đến hai phần ruột quả chuối, y như các giống chuối dại trên rừng! Lũ hột ấy mà cắn vỡ ra, bên trong chứa vị tanin chan chát giống vị ổi, vị trà.
Cũng không có gì ghê gớm nhưng lỡ dại mà ăn tham, ăn nhiều là thể nào cũng “có chuyện”. Đám hột cùng cái vị chan chát “hiền lành” kia sẽ gây táo bón đến… tắc ruột, khiến ai lỡ “dính đạn” – dù chỉ một lần – cũng lập tức buộc chỉ cổ tay mà ghi nhớ! Công bình mà nói, lớp cơm ít ỏi đóng xung quanh phần hột chuối khá thơm ngon (còn ngon hơn một số giống chuối không hột!) nhưng sự phiền phức của cái khâu ăn chuối phải nhằn hột đã khiến chuối hột đánh mất giá trị thương phẩm ăn tươi. Ít ai dùng quả chín để ăn mà chỉ đem ngâm rượu hoặc phơi khô, nấu nước uống mà trị một số bệnh như suy- sỏi thận, đau lưng… Nhu cầu ấy không lớn lắm. Tuy thế, người quê không bỏ chuối hột. Chuối vẫn được trồng lác đác, không nhiều thì ít, nơi các góc vườn quê. Mà chúng khỏe cực! Đào bỏ, chỉ cần sơ ý sót lại một mụt chuối con con lấp đâu dưới lớp đất là chỉ độ năm sau, chúng đã hùng dũng vươn lên, đẻ cháu sinh con thành một bụi chuối mới, to đùng!
Không bỏ được cây chuối hột là có căn nguyên xác đáng. Nhược ở chất lượng trái (chín) nhưng giống chuối hột đã tranh đấu, chứng minh cho quyền được sinh tồn của mình bằng hàng loạt cái ưu không giống chuối nào có. Bẹ chuối hột (khá dẻo dai) được người ở quê phơi khô, tước nhỏ làm dây buộc. Trái, bắp (hoa), thân chuối hột lúc còn non đều ăn được, thậm chí còn là món khá khoái khẩu (ăn sống hoặc nấu chín) không thể thiếu trong một số thực đơn: bún chả cá, bún riêu, lươn om, gỏi gà, vịt luộc… Chưa hết, cây chuối hột còn tặng người quê một sản phẩm cực kỳ lợi hại: lá chuối! Vùng quê miền Trung, miền Nam thiếu lá dong nên các loại bánh truyền thống (bánh ít, bánh tét, bánh chưng) đều được người quê gói bằng lá chuối. Mà chỉ duy nhất lá chuối hột dùng được bởi nó khá dẻo dai, tạo mùi thơm dễ chịu và không có vị đắng. Còn nữa, bánh gói bằng lá chuối hột, khi bóc ra sẽ có lớp da màu xanh rất đẹp. Ngày còn bé, cứ mỗi lần thấy mẹ lụm cụm buộc cái câu liêm (liềm) vào đầu cây sào dài, vác ra vườn rọc lá chuối là tôi biết ngay sắp có giỗ chạp! Sướng lắm. Thể nào cũng rồng rắn chạy theo xin mẹ vài cái sống lá thật to, buộc dây đeo vai mà làm… súng. Cả lũ hò nhau chia phe đánh trận giả rồi vừa bắn ùng oàng vừa mơ đến những lát bánh chưng, bánh tét gói lá chuối hột dẻo quẹo chân răng, hay cái bánh ít thơm mùi lá gai và béo ngậy nhân dừa…
Ngoài công dụng chính để gói bánh, lá chuối hột còn được dùng gói các món quà quê (xôi, bánh, kẹo dẻo…) thường ngày của người quê. Thế nên quê xưa, nhà nào chuối hột nhiều, giỗ chạp còn thừa, có thể rọc, cuốn lại mà mang ra chợ bán. Hàng quà bánh mua lá chuối, sau đó bán quà lại cho người bán lá, và gói quà bằng chính những tấm lá họ vừa mua xong. Tiện lợi có thể không bằng giấy báo, túi nilon nhưng chất lượng thì đương nhiên ăn đứt. Và, quan trọng hơn, chưa nghe ai phải đau đầu về chuyện… lá chuối gây ô nhiễm môi trường!
Quê giờ đang phố hóa. Lắm loài cây cỏ chốn quê đã và đang phải hy sinh để nhường đường cho cỗ xe phát triển. Thế nhưng cây chuối hột thì chưa! Mặc cảnh chợ đời nhao nhác bán mua, họ hàng chuối hột vẫn cứ tỉnh bơ mà nảy nở, sinh sôi bởi chúng biết chúng vẫn còn cần cho con người lắm lắm. Ai dại gì mà khai tử chúng khi cái thực đơn bếp Việt đang ngày càng lên ngôi, không riêng ta mà cả Tây cũng khoái.
Leave a Comment